48. Tạ Tháp Sớ
Nguyên văn:
謝塔疏
伏以
金峯燦燦、昭然萬古以無窮、寶塔巍巍、宛爾千秋而有永、旣安舍利、禮謝浮圖。拜疏爲
大南國...奉于案前、獻供謝塔報德酬恩事。今法子等、惟日仰干尊德、俯鑒微誠
伏爲恭薦尊師徽號和尚之覺靈。
恭惟、尊師量廓心天、性存水月、...十餘年花化道、弘推大海之波、...十歲法臘薰修、表出叢林之上、三玄三要、了達於三空、四聖四諦、圓明於四智、生生唱誦、个个稱揚、兹安舍利已云週、爰效菜蘋之微供、願祈尊德証明、威光鑒格、曲垂慧力、獲蒙聖眼以遙觀、克享丹誠、得遂凡心之仔細、俾以禪門釋子、燈燈燦爛祥光、保其眷屬蓮宗、刼刼尊崇佛道、方方普利、處處均霑、但下情...(如前)
Phiên âm:
TẠ THÁP SỚ
Phục dĩ
Kim phong xán xán, chiêu nhiên vạn cổ dĩ vô cùng; bảo tháp nguy nguy, uyển nhĩ thiên thu nhi hữu vĩnh; ký an Xá Lợi,1 lễ tạ Phù Đồ.2
Bái sớ vị: Đại Nam Quốc … phụng vu án tiền, hiến cúng tạ tháp báo đức thù ân sự. Kim Pháp tử … đẳng, duy nhật ngưỡng can tôn đức, phủ giám vi thành.
Phục vị: Cung tiến Tôn Sư huy hiệu Hòa Thượng chi giác linh.
Cung duy: Tôn Sư lượng quách tâm thiên, tánh tồn thủy nguyệt;3 … thập dư niên hoa hóa đạo, hoằng thôi đại hải chi ba; … thập tuế Pháp Lạp huân tu, biểu xuất tùng lâm chi thượng; Tam Huyền4Tam Yếu,5 liễu đạt ư Tam Không; Tứ Thánh6 Tứ Đế,7 viên minh ư Tứ Trí;8 sinh sinh xướng tụng, cá cá xưng dương; tư an Xá Lợi dĩ vân châu, viên hiệu thái tần chi vi cúng; nguyện kỳ tôn đức chứng minh, uy quang giám cách; khúc thùy huệ nhật, hoạch mông Thánh nhãn dĩ dao thông; khắc hưởng đơn thành, đắc toại phàm tâm chi tử tế; tỷ dĩ Thiền môn Thích tử, đăng đăng xán lạn tường quang; bảo kỳ quyến thuộc Liên Tông, kiếp kiếp tôn sùng Phật đạo; phương phương phổ lợi, xứ xứ quân triêm; đản hạ tình … (như tiền).
Dịch nghĩa:
SỚ CÚNG TẠ THÁP
Cúi nghĩ:
- cao sáng rực, chiếu soi vạn cổ mãi vô cùng; bảo tháp nguy nga, y nhiên ngàn năm vẫn còn đó; đã an Xá Lợi, lễ tạ Phù Đồ.
Lạy Sớ tâu: Việc Chùa …, nước Đại Nam, vâng đến trước án, thiết cúng Tôn sư nhập tháp. Nay Pháp tử … hiếu đồ … Hôm nay ngưỡng trông tôn đức, chứng giám lòng thành.
Cúi vì: Dâng cúng giác linh Tôn sư Hòa Thượng (huy hiệu) …
Lạy Sớ tâu: Việc … nước Đại Nam, vâng đến trước án, dâng cúng tạ tháp, báo đức đáp ơn. Nay Pháp tử … hôm nay ngưỡng trông tôn đức, chứng giám lòng thành.
Cúi vì: Dâng cúng giác linh Tôn sư Hòa Thượng (huy hiệu) …
Nép nghĩ: Tôn sư lượng rộng trời tâm, tánh như trăng nước; … mươi tuổi xuân thu hóa đạo, đẩy lùi biển lớn sóng cồn; … mươi năm Pháp Lạp huân tu, nổi bật tùng lâm trên hết; Ba Huyền Ba Yếu, liễu ngộ nơi Ba Không; Bốn Thánh Bốn Đế, tỏ sáng với Bốn Trí; đời đời xướng tụng, kẻ kẻ tán dương. Nay an Xá Lợi đã vẹn toàn, bắt chước cỏ rong chút mọn cúng; nguyện cầu Tôn đức chứng minh, hào quang soi xét; cúi mong sức tuệ, được mắt Thánh ấy nhìn xa; hưởng cả tâm thành, thỏa mãn phàm tâm ấy tử tế; khiến cho Thiền môn Thích tử, đèn đèn sáng tỏ hào quang; giữ cho quyến thuộc Liên Tông, kiếp kiếp tôn sùng Phật đạo; nơi nơi lợi lạc, chốn chốn thấm nhuần; kẻ hạ tình … (như trước).
Chú thích:
- Xá Lợi (s: śarīra, p: sarīra, 舍利): âm dịch là Thật Lợi (實利), Thiết Lợi La (設利羅), Thất Lợi La (室利羅); ý dịch là tử thi (死屍), di cốt (遺骨), xác chết, thân, thể, thân cốt (身骨), di thân (遺身). Thông thường, từ nầy được dùng để chỉ cho di cốt của đức Phật, nên có tên là Phật cốt (佛骨), Phật Xá Lợi (佛舍利); về sau chỉ cho phần xương cốt lưu lại sau khi hỏa thiêu của chư vị cao tăng. Bảo tháp nơi được an trí Xá Lợi Phật được gọi là Xá Lợi Tháp (舍利塔), bình có an trí Xá Lợi thì gọi là Xá Lợi Bình (舍利瓶), hay pháp hội cúng dường Xá Lợi Phật thì có tên là Xá Lợi Hội (舍利會). Như trong Hợp Bộ Kim Quang Minh Kinh (合部金光明經, Taishō Vol. 16, No. 664) quyển 8 định nghĩa rằng: “Thử Xá Lợi giả, thị Giới Định Tuệ chi sở huân tu, thậm nan khả đắc, tối thượng phước điền (此舍利者、是戒定慧之所熏修、甚難可得、最上福田, Xá Lợi nầy được huân tu bởi Giới Định Tuệ, thật khó có được, là ruộng phước tối thượng).” Dục Phật Công Đức Kinh (浴佛功德經, Taishō Vol. 16, No. 698) chia Xá Lợi làm 2 loại: (1) Sanh Thân Xá Lợi (生身舍利), tức di cốt của đức Phật; (2) Pháp Thân Xá Lợi (法身舍利), hay Pháp Tụng Xá Lợi (法頌舍利), là giáo pháp, giới luật của Ngài để lại và lấy Xá Lợi để ví dụ. Trong khi đó, Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 40 lại phân Xá Lợi làm 3 loại: (1) Cốt Xá Lợi (骨舍利, Xá Lợi xương), có màu trắng; (2) Phát Xá Lợi (髮舍利, Xá Lợi răng), màu đen; (3) Nhục Xá Lợi (肉舍利, Xá Lợi thịt), màu đỏ. Xá Lợi nói chung chủ yếu là mảnh xương, có hình trạng lớn nhỏ bất đồng, cứng chắc, nhỏ vụn, thường như hạt đậu. Theo kinh điển cho biết rằng Xá Lợi đức Phật được chia làm 3 phần cho chư Thiên, Long Vương và con người. Trong đó, tương truyền Trời Đế Thích (s: Indra, p: Inda, 帝釋天) thì nhận Xá Lợi răng, đem về Trời cúng dường, nhưng bị quỷ chạy nhanh đoạt mất một miếng. Ngoài việc lễ bái Xá Lợi đức Phật, còn có truyền thống lễ bái Xá Lợi của các tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難), Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連), Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), v.v. Bên cạnh đó, lễ bái các Thánh địa như nơi đức Phật Đản Sanh, gốc cây Bồ Đề nơi Ngài Thành Đạo, tòa báu Kim Cang, nơi Ngài từng đi kinh hành, v.v., đều có ý nghĩa tạo nhân duyên gọi là “gặp Phật nghe pháp” để sớm thành đạo quả. Về sự kiện sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, 8 quốc gia phân phối Xá Lợi của Ngài như thế nào, các kinh điển ghi lại rất rõ. Theo Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 4, Du Hành Kinh (遊行經) thứ 2, lúc bấy giờ dân chúng Mạt La (p: Malla, 末羅) của nước Ba Bà (p: Pāvā, 波婆) muốn có được Xá Lợi để dựng tháp cúng dường ngay tại xứ sở mình, bèn chuẩn bị 4 loại binh lính đến thành Câu Thi Na (s: Kuśinagara, p: Kusinagara, 拘尸那), sai sứ giả cầu xin phân chia Xá Lợi. Thế nhưng, quốc vương nước nầy lại bảo rằng Đức Phật diệt độ tại nước ông, nên dân chúng trong nước có thể tự lo liệu cúng dường và từ chối không chia Xá Lợi. Đồng thời, dân chúng Bạt Ly (p: Buli, 跋離) của nước Già La Phả (p: Allakappa, 遮羅頗), dân chúng Câu Lợi (p: Koḷiya, 拘利) của nước La Ma Già (p: Rāmagāma, 羅摩伽), chúng Bà La Môn của nước Tỳ Lưu Đề (p: Veṭhadīpa, 毘留提), dân chúng dòng họ Thích Ca (p: Sakya, 釋迦) của nước Ca Tỳ La Vệ (p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), dân chúng Ly Xa (p: Licchavī, 離車) của nước Tỳ Xá Ly (p: Vesālī, 毘舍離), vua A Xà Thế (p: Ajātasattu, 阿闍世) của nước Ma Kiệt Đà (p: Magadha, 摩掲陀); mỗi đoàn đều chuẩn bị 4 loại binh lính, tiến qua sông Hằng. Trong khi đó, Bà La Môn Hương Tánh (香姓) cũng xin chia Xá Lợi, nhưng bị từ chối. Các nước nhất tề muốn dùng sức mạnh của binh khí, đao gậy để tranh giành; song Bà La Môn Hương Tánh ngăn cản, khuyên họ không nên làm như vậy; bèn phân chia Xá Lợi cho 8 quốc gia. Các nước nhận được Xá Lợi xong, trở về bổn quốc, dựng tháp cúng dường. Trong Ngụy Thư (魏書), phần Thích Lão Chí (釋老志), có đoạn: “Phật ký tạ thế, hương mộc phần thi, linh cốt phân toái, đại tiểu như lạp, kích chi bất hoại, phần diệt bất tiêu, hoặc hữu quang minh thần nghiệm, Hồ ngôn vị chi Xá Lợi, đệ tử thâu phụng, trí chi bảo bình, kiệt hương hoa, trí kính mộ, kiến cung vũ, vị chi tháp (佛旣謝世、香木焚屍、靈骨分碎、大小如粒、擊之不壞、焚亦不燋、或有光明神驗、胡言謂之舍利、弟子收奉、置之寶瓶、竭香花、致敬慕、建宮宇、謂爲塔, Đức Phật đã qua đời, lấy gỗ thơm đốt thi hài, linh cốt chia nhỏ ra, lớn nhỏ như hạt gạo, đập vào không vỡ, đem đốt không cháy, hoặc có ánh sáng linh nghiệm, người Hồ [Ấn độ] gọi đó là Xá Lợi, đệ tử thu gom thờ phụng, đặt vào trong bình báu, dốc hết hương hoa [cúng dường], tận tâm kính mộ, kiến lập cung điện nhà cửa, gọi đó là tháp).” Hay trong tác phẩm Cổ Kim Tiểu Thuyết (古今小說, tức Dụ Thế Minh Ngôn [喻世明言]) quyển 30, phần Minh Ngộ Thiền Sư Cản Ngũ Giới (明悟禪師趕五戒), của Bằng Mộng Long (馮夢龍, 1574-1646) nhà Thanh, lại có đoạn: “Tụng xong, Trà Tỳ chi thứ, kiến hỏa trung nhất đạo thanh yên, trực thấu vân đoan, yên trung hiển xuất Viên Trạch toàn thân bổn tướng, hiệp chưởng hướng không nhi khứ; thiểu yên, Xá Lợi như vũ, chúng tăng thâu cốt nhập tháp (頌畢、茶毗之次、見火中一道青煙、直透雲端、煙中顯出圓澤全身本相、合掌向空而去、少焉、舍利如雨、眾僧收骨入塔, sau khi đọc bài tụng xong, khi làm lễ Trà Tỳ [hỏa thiêu], thấy trong lửa có một làn khói xanh, xuyên thẳng lên tầng mây, trong làn khói ấy hiện rõ toàn thân hình tướng của Thiền Sư Viên Trạch, chấp tay hướng không trung mà đi; lát sau, Xá Lợi như mưa, chúng tăng thu gom cốt nhập tháp).” Hoặc trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 36, phần Tịnh Từ Trọng Dĩnh Thiền Sư Pháp Từ (淨慈仲穎禪師法嗣), Ôn Châu Giang Tâm Nhất Sơn Thiền Sư (溫州江心一山禪師), cũng có đoạn rằng: “Hoàng Khánh nguyên niên thập nhất nguyệt nhị thập lục nhật, cấu tật nguy toạ bất cận dược; duyệt thất nhật, mạng cụ dục cánh y, xuất cứ thất kỷ, thư quyết chúng ngữ tọa thệ; Xà Duy thâu ngũ sắc Xá Lợi như thục, bất khả kế, song mục tình bất tẫn (皇慶元年十一月二十六日、遘疾危坐不近藥、閱七日、命具浴更衣、出據室几、書訣眾語坐逝、闍維收五色舍利如菽、不可計、雙目睛不燼, vào ngày 26 tháng 12 năm đầu [1312] niên hiệu Hoàng Khánh [đời vua Nhân Tông nhà Nguyên], Thiền Sư nhuốm bệnh, vẫn ngồi ngay thẳng mà không uống thuốc; trải qua 7 ngày, ngài bảo tắm rửa, thay áo quần, ra ngồi tựa vào ghế dựa của thất, viết thư giã từ vài lời rồi ngồi mà ra đi; khi làm lễ Xà Duy [hỏa thiêu], thâu Xá Lợi năm màu nhiều như hạt đậu, không đếm được, hai tròng mắt không cháy thành tro).”
- Phù Đồ (浮圖, 浮屠): còn gọi là Phật Đồ (佛圖), ý dịch của chữ stūpa (s.) và thūpa (p.), nghĩa là tháp. Trong Ngụy Thư (魏書), quyển 114, phần Thích Lão Chí (釋老志) có đoạn: “Tự lạc trung cấu Bạch Mã Tự, thạnh sức Phật Đồ, họa tích thậm diệu, vi tứ phương thức; phàm cung tháp chế độ, do y Thiên Trúc cựu trạng nhi trùng cấu chi, tùng nhất cấp chí tam, ngũ, thất, cửu, thế nhân tương thừa, vị chi Phù Đồ (自洛中構白馬寺、盛飾佛圖、畫跡甚妙、爲四方式、凡宮塔制度、猶依天竺舊狀而重構之、從一級至三、五、七、九、世人相承、謂之浮圖, trong kinh đô xây dựng Bạch Mã Tự, trang trí tháp Phật, nét vẽ tuyệt diệu, theo bốn phương thức; phàm chế độ cung tháp, đều nương theo hình trạng cũ của Thiên Trúc [Ấn Độ] mà kiến lập, từ một tầng cho đến ba, năm, bảy, chín tầng; người đời kế thừa, gọi đó là Phù Đồ).” Như trong bài Khương Cư Quốc Hội Tôn Giả Tượng Tán (康居國會尊者像贊) của Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 18 có câu: “Thường văn Tôn Quyền sơ kiến Hội công, nghi kỳ hình phục, cập cầu Xá Lợi hữu nghiệm, toại kiến Phù Đồ (嘗聞孫權初見會公、疑其形服、及求舍利有驗、遂建浮圖, thường nghe rằng ban đầu khi Tôn Quyền mới gặp Khương Tăng Hội thì nghi ngờ hình tướng vị nầy, bèn cầu xin Xá Lợi và có linh nghiệm, cuối cùng kiến lập tháp thờ).” Hay như trong Tát Đàm Phân Đà Lợi Kinh (薩曇分陀利經, Taishō Vol. 9, No. 265) cũng có đoạn: “Thị thời, thất bảo Phù Đồ, dũng tùng địa xuất thượng chí Phạm Thiên, Phù Đồ trung ương, hữu thất bảo đại Giảng Đường, huyền tràng phan hoa cái, danh hương thanh khiết (是時、七寶浮圖、涌從地出上至梵天、浮圖中央、有七寶大講堂、懸幢幡華蓋、名香清潔, lúc bấy giờ, tháp bằng bảy báu, từ đất vọt ra lên đến Phạm Thiên, giữa trung tâm tháp, có Giảng Đường bằng bảy báu, treo tràng phan, lọng báu, hương thơm tinh khiết).” Trong Tăng Quảng Hiền Văn (增廣賢文) có câu: “Cứu nhân nhất mạng, thắng tạo thất cấp Phù Đồ (救人一命、勝造七級浮屠, cứu người một mạng, hơn tạo bảy cấp tháp thờ).” Và tục ngữ dân gian Việt Nam cũng có câu tương tự như vậy: “Dẫu xây chín bậc Phù Đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.”
- Thủy nguyệt (水月): có mấy nghĩa. (1) Nước và trăng. Như trong bài Động Đình Thu Nguyệt Hành (洞庭秋月行) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu; “Sơn thành thương thương dạ tịch tịch, thủy nguyệt uy di nhiễu thành bạch (山城蒼蒼夜寂寂、水月逶迤繞城白, thành núi xanh xanh đêm vắng vẻ, trăng nước lượn quanh thành trắng xóa).” (2) Chỉ mặt trăng trong sáng vằng vặc như nước. Như trong bài thơ Nam Khang Quận Mục Lục Quăng Lang Trung Tích Hứa Đường Tiên Bối Vi Quận Tùng Sự Hữu Ký Tặng (南康郡牧陸肱郎中辟許棠先輩爲郡從事有寄贈) của Trịnh Cốc (鄭谷, 849-911) nhà Đường có câu: “Dạ thanh tăng bán túc, thủy nguyệt tại tùng tiêu (夜清僧伴宿、水月在松梢, đêm thanh tăng chưa ngủ, trăng sáng trên ngọn tùng).” (3) Thủy nguyệt (s: udaka-candra), chỉ mặt trăng hay bóng trăng trong nước, là một trong 10 ví dụ của Phật Giáo Đại Thừa. Mặt trăng ở trong nước là bóng hiện ra, không phải là thật thể của mặt trăng; nên được dùng làm ví dụ cho cái không có tự tánh của các pháp. Kẻ phàm phu lầm chấp trong lòng nước tâm có hiện hữu các tướng tôi và của tôi, rồi bám chặt vào các pháp; nhưng thật ra các pháp không có thật thể của chúng, hết thảy đều do nhân duyên mà sanh diệt. Như trong bài thơ Tặng Tuyên Châu Linh Nguyên Tự Trọng Tuấn Công (贈宣州靈源寺仲濬公) của Lý Bạch (李白, 710-762) nhà Đường có câu: “Quán tâm đồng thủy nguyệt, giải lãnh đắc minh châu(觀心同水月、解領得明珠, quán tâm cùng trăng nước, lãnh ngộ được minh châu).” Hay trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 5, phần Xích Tùng Lãnh Thiền Sư Pháp Từ (赤松領禪師法嗣), Mi Đàm Phụng Hoàng Đại Chuyết Tịnh Hà Thiền Sư (眉潭鳳凰大拙淨霞禪師), lại có đoạn: “Pháp Thân thanh tịnh đẳng hư không, ứng vật hiện hình thủy nguyệt đồng, mạc đạo tha sơn phương thảo lục, xuân lai xứ xứ bách hoa hồng (法身清淨等虛空、應物現形水月同、莫道他山芳草綠、春來處處百花紅, Pháp Thân thanh tịnh tợ hư không, theo vật hiện hình trăng nước cùng, chớ bảo núi kia cỏ thơm lục, xuân về chốn chốn trăm hoa hồng).” Hoặc trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 21, phần Thư Châu Bạch Vân Sơn Hải Hội Diễn Hòa Thượng Ngữ Lục (舒州白雲山海會演和尚語錄), cũng có câu: “Cúc thủy nguyệt tại thủ, lộng hoa hương mãn y (掬水月在手、弄花香滿衣, vớt nước trăng trên tay, đùa hoa hương đầy áo).” Trong Tăng Bảo Chánh Tục Truyện (僧寶正續傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1561) quyển 1, phần La Hán Nam Thiền Sư (羅漢南禪師), lại có đoạn khác: “Yến tọa thủy nguyệt đạo tràng, hàng phục kính lí ma quân, thành tựu mộng trung Phật quả, kim triêu pháp tuế dĩ viên (宴坐水月道塲、降伏鏡裏魔軍、成就夢中佛果、今朝法歲已圓, ngồi Thiền trăng nước đạo tràng, hàng phục trong kính ma quân, thành tựu trong mộng quả Phật, sáng nay tuổi pháp đã tròn).”
- Tam Huyền (三玄): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Từ gọi chung của các nhà huyền học thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều (魏晉南北朝, 220-589) đối với 3 thư tịch Lão Tử (老子), Trang Tử (莊子) và Chu Dịch (周易). Đạo Giáo cũng dùng đến thuật ngữ nầy. Như trong Nhan Thị Gia Huấn (顏氏家訓), chương Miễn Học (勉學), giải thích rằng: “Kịp ư Lương thế, tư phong phục xiển, Trang, Lão, Chu Dịch, tổng vị Tam Huyền (洎於梁世、茲風復闡、莊、老、周易、總謂三玄, đến thời nhà Lương, phong thái nầy lại được mở ra, Trang Tử, Lão Tử và Chu Dịch, gọi chung là Tam Huyền).” (2) Chỉ cho mặt trời, mặt trăng và sao. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) có đoạn: “Thiên hữu Tam Huyền, vị nhật, nguyệt, tinh dã (天有三玄,謂日、月、星也, trời có Tam Huyền, tức là mặt trời, mặt trăng và sao).” (3) Thuật ngữ Thiền, chỉ cho 3 loại áo nghĩa, giáo chỉ do chư vị Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄, ?-866) của Lâm Tế Tông tuyên xướng; gồm: (a) Thể Trung Huyền (體中玄), (b) Cú Trung Huyền (句中玄), (c) Huyền Trung Huyền (玄中玄). Trong một câu có Ba Huyền, trong một Huyền có Ba Yếu, tổng cọng có 9 pháp. Như trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 9, phần Đông Kinh Hoa Nghiêm Phổ Tư Thiền Sư (東京華嚴普孜禪師), có đoạn: “Sư vi nhân thanh tú kiệt xuất, xướng Lâm Tế hạ Tam Huyền Cửu Đái, tạo Tào Động Ngũ Vị Thập Huyền, giai diệu đắc kỳ gia phong yếu chỉ (師爲人清秀傑出、唱臨濟下三玄九帶、造曹洞五位十玄、皆妙得其家風要旨, Thiền Sư là người thanh tú kiệt xuất, cổ xướng Ba Huyền Chín Pháp của Lâm Tế, tạo ra Năm Vị Mười Huyền của Tào Động, đều đạt được gia phong yếu chỉ của người một cách diệu xảo).” Hay trong bài thơ Tiên Hòa Thượng Tọa Thoát (仙和尚坐脫) của Triệu Phong (趙渢, ?-?) nhà Kim cũng có đoạn: “Dũng để thoát thời vô nhất vật, cơ luân chuyển xứ hữu Tam Huyền(桶底脫時無一物、機輪轉處有三玄, đáy thùng vỡ rồi chẳng một vật, cơ phong chuyển hóa có Ba Huyền).” Hoặc trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 38, phần Đầu Thủ Tứ Tiết Bỉnh Phất (頭首四節秉拂), lại có câu: “Hoát khai Tam Yếu Tam Huyền lộ, tọa đoạn Tu Di đệ nhất phong(豁開三要三玄路、坐斷須彌第一峰, mở toang Ba Yếu Ba Huyền nẻo, nghiễm nhiên ngồi chót đỉnh Tu Di).”
- Tam Yếu (三要): 3 yếu tố quan trọng, có 2 nghĩa. (1) Đạo gia cho Tam Yếu là tai, mắt và miệng. Như trong Âm Phù Kinh (陰符經) có đoạn: “Cửu Khiếu chi tà, tại hồ Tam Yếu, khả dĩ động tĩnh (九竅之邪、在乎三要、可以動靜, Chín Lỗ sai lầm, ở ba điểm chính, có thể động tĩnh).” Thái Công giải thích rằng: “Tam Yếu giả, nhĩ, mục, khẩu dã (三要者、耳、目、口也, ba nơi trọng yếu là tai, mắt, miệng).” (2) Chỉ cho 3 yếu tố quan trọng trong mỗi một huyền môn, do Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền cử xướng. Đó là: (a) Trong lời nói không có phân biệt tạo tác; (b) Chư vị thánh đều phải vào thẳng chỗ huyền áo; (c) Dứt bặt ngôn ngữ. Trong Thiền Gia Quy Giám (禪家龜鑑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1255) giải thích rằng: “Tham Thiền tu cụ tam yếu, nhất hữu đại tín căn, nhị hữu đại phẫn chí, tam hữu đại nghi tình (參禪須具三要、一有大信根、二有大憤志、三有大疑情, tham Thiền phải có đủ ba yếu tố chính, một là có tín căn lớn, hai là có chí giận dữ lớn, ba là có nghi tình lớn).” Hay trong Thiền Lâm Loại Tụ (禪林類聚, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1299) quyển 6, phần Thị Chúng (示眾), lại có đoạn: “Phù nhất cú ngữ tu cụ Tam Huyền môn, nhất huyền môn tu cụ Tam Yếu, hữu quyền hữu dụng (夫一句語須具三玄門、一玄門須具三要、有權有用, phàm một câu nói phải có Ba Huyền môn, một huyền môn phải có Ba Yếu, có quyền có dụng).”
- Tứ Thánh (四聖): bốn vị Thánh, có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ 4 nhà thống trị anh minh như thánh, gồm Chuyên Húc (顓頊), vua Khốc (嚳), vua Nghiêu (堯), và vua Thuấn (舜). (2) Chỉ 4 nhà thống trị anh minh khác là vua Nghiêu, Thuấn, Vũ (禹) và Thang (湯). Như trong Dịch Lâm (易林), phần Phục Chi Đại Quá (復之大過), của Tiêu Cống (焦贛, ?-?) nhà Hán, có câu: “Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Tứ Thánh đôn nhân, doãn thí đức âm, dân an vô cùng (堯、舜、禹、湯、四聖敦仁、允施德音、民安無窮, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Bốn Thánh đôn hậu nhân từ, ban khắp âm đức, dân an vô cùng).” (3) Chỉ cho 4 vị vua Phục Nghi (伏羲), Hiên Viên (軒轅, tức Hoàng Đế [黃帝]), Cao Tân (高辛, tức vua Khốc) và Vũ. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) có đoạn rằng: “Phục Nghi thọ đồ, Hiên Viên thọ phù, Cao Tân thọ thiên kinh, Hạ Vũ thọ Lạc Thư; Tứ Thánh bẩm kỳ thần linh, Ngũ Lão hiện ư hà chử (伏羲受圖、軒轅受符、高辛受天經、夏禹受洛書、四聖稟其神靈、五老現於河渚, Phục Nghi nhận bản đồ, Hiên Viên nhận lá phù, Cao Tân nhận kinh trời, Hạ Vũ nhận Lạc Thư; Bốn Thánh vâng thần linh ấy, Năm Lão hiện nơi bãi sông).” (4) Chỉ cho Chu Công (周公), Thái Công (太公), Chiêu Công (召公) và Sử Dật (史佚). (5) Chỉ cho 4 vị vua anh minh như bậc thánh thời nhà Đường là Túc Tông (肅宗, tại vị 756-762), Đại Tông (代宗, tại vị 762-779), Đức Tông (德宗, tại vị 779-805) và Thuận Tông (順宗, tại vị 805). (6) Nhà y học gọi Hoàng Đế (黃帝), Kì Bá (岐伯), Tần Việt Nhân (秦越人, tức Biển Thước [扁鵲, 407-310 ttl.]) và Trương Cơ (張機, 150-219) là Tứ Thánh. (7) Khi Mười Giới phân ra phàm thánh, Thanh Văn (s: śrāvaka, 聲聞), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺), Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩) và Phật (s, p: buddha, 佛) được gọi là Tứ Thánh, còn các cõi kia là Lục Phàm (六凡, sáu hạng phàm phu). Các vị Thánh nầy đã xa lìa phiền não, đoạn tận khổ của luân hồi. (8) Chỉ cho 4 quả vị của Thanh Văn là Dự Lưu (預流), Nhất Lai (一來), Bất Hoàn (不還) và Vô Học (無學, tức A La Hán). (9) Chỉ 4 ngôi tôn kính được lễ bái trong Thiền Tông, gồm Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀), Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音), Bồ Tát Đại Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 大勢至) và Đại hải chúng Bồ Tát. (1) Chỉ cho 4 cao đệ của Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) là Đạo Sanh (道生, 355-434), Tăng Triệu (僧肇, 384-414), Đạo Dung (道融, ?-?) và Tăng Duệ (僧叡, ?-?). Như trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 36 có đoạn rằng: “La Thập đệ tử hữu Sanh Triệu Dung Duệ, thời hiệu Quan Trung Tứ Thánh (羅什弟子有生肇融叡、時號關中四聖, đệ tử của La Thập có Đạo Sanh, Tăng Triệu, Đạo Dung và Tăng Duệ; đương thời gọi là Bốn Thánh của Quan Trung).” Trong Lạc Bang Văn Loại (樂邦文類, Taishō Vol. 47, No. 1969A) lại có đoạn rằng: “Tịnh nhi Tứ Thánh, nhiễm nhi Lục Phàm, ngô tâm chi Tứ Thánh Lục Phàm dã (淨而四聖、染而六凡、吾心之四聖六凡也, tịnh là Bốn Thánh, nhiễm là Sáu Phàm, đó là Bốn Thánh Sáu Phàm của tâm ta vậy).”
- Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦): Đế (s: satya, p: sacca, 諦) ở đây nghĩa là chân thật, bất hư, chân lý. Tứ Đế chỉ cho 4 loại chân lý đúng dắn, không sai lầm, không hư dối, gồm: Khổ (苦), Tập (集), Diệt (滅) và Đạo (道); còn gọi là Tứ Chân Đế (四眞諦); 4 chân lý nầy do bậc thánh thấy được nên gọi là Tứ Thánh Đế (四聖諦), Tứ Diệu Đế (四妙諦). Đại thể, Tứ Đế là Phật Giáo dùng để giải thích hiện tượng vũ trụ theo quy nạp của thuyết Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣), là đại cương giáo nghĩa của Phật Giáo Nguyên Thủy, là bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật Thích Ca. Theo thứ tự, 4 chân lý nầy là Khổ Thánh Đế (苦聖諦), Khổ Tập Thánh Đế (苦集聖諦), Khổ Diệt Thánh Đế (苦滅聖諦), Khổ Diệt Đạo Thánh Đế (苦滅道聖諦); hoặc Khổ Thánh Đế (苦聖諦), Khổ Tập Đế (苦習諦), Khổ Diệt Đế (苦滅諦), Khổ Diệt Đạo Thánh Đế (苦滅道聖諦); hay Khổ Đế (苦諦), Khổ Tập Đế (苦集諦), Khổ Tận Đế (苦盡諦), Khổ Xuất Yếu Đế (苦出要諦); hoặc Khổ Thánh Đế (苦聖諦), Tập Thánh Đế (集聖諦), Chơn Thánh Đế (眞聖諦), Đạo Thánh Đế (道聖諦). Trong đó, Khổ và Tập biểu thị quả và nhân của thế giới mê lầm; Diệt và Đạo biểu thị quả và nhân của thế giới chứng ngộ; nghĩa là quả của thế gian Hữu Lậu là Khổ Đế, quả của xuất thế gian Vô Lậu là Diệt Đế; nhân của thế gian Hữu Lậu là Tập Đế, quả của xuất thế gian Vô Lậu là Đạo Đế. Theo Trung A Hàm Kinh (中阿含經, Taishō Vol. 1, No. 26) quyển 7, Phân Biệt Thánh Đế Kinh (分別聖諦經), A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 77, Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập Luận (大乘阿毘達磨雜集論, Taishō Vol. 31, No. 1606) quyển 7, v.v., cụ thể Tứ Đế là: (1) Khổ Đế (s: duḥkha-satya, p: dukkha-sacca, 苦諦), còn gọi là Khổ Thánh Đế (s: duḥkhārya-satya, 苦聖諦); khổ tức chỉ trạng thái bức bách thân tâm khổ não; mọi sự vật trên thế gian, dù hữu tình hay chẳng phải hữu tình, đều phải chịu khổ; hết thảy thế gian bản chất là khổ. Khổ Đế tức là chân lý về cái khổ thật sự liên quan đến vấn đề sanh tử. (2) Tập Đế (s: samudaya-satya, p: samudaya-sacca, 集諦), còn gọi là Tập Thánh Đế (s: samudayārya-satya, 集聖諦); tập đây nghĩa là sự thật về tất cả phiền não hoặc nghiệp thật sự có thể chiêu tập quả của khổ sanh tử trong Ba Cõi. Tập Đế là chân lý liên quan đến sự sanh khởi cũng như căn nguyên các nỗi khổ của con người trên cõi đời nầy. (3) Diệt Đế (s: nirodha-satya, p: nirodha-sacca, 滅諦), còn gọi là Diệt Thánh Đế (s: nirodhārya-satya, 滅聖諦); diệt ở đây nghĩa là tịch diệt, vắng lặng, thật sự đoạn trừ căn bản của khổ là ái dục thì sẽ được diệt khổ, có thể nhập vào cảnh giới Niết Bàn. Diệt Đế là chân lý liên quan đến sự diệt tận Khổ và Tập. (4) Đạo Đế (s: mārga-satya, p: magga-sacca, 道諦), còn gọi là Đạo Thánh Đế (s: mārgārya-satya, 道聖諦); đạo nghĩa là có thể thông suốt, tức là con đường diệt khổ, như Chánh Kiến (正見), Chánh Tư Duy (正思惟), v.v., của Bát Chánh Đạo(s: āryāṣṭāṇga-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道); nếu nương vào đây mà tu hành, tức có thể siêu thoát hai sự thật Khổ và Tập, đạt đến cảnh giới Niết Bàn vắng lặng. Đạo Đế là chân lý liên quan đến Bát Chánh Đạo ấy. Sau khi thành đạo, Đức Phật thuyết Tứ Đế nầy cho 5 vị Tỳ Kheo, được xem như là lần chuyển Pháp Luân đầu tiên. Đây là giáo nghĩa căn bản nhất trong các giáo lý Phật Giáo, là phương pháp duy nhất dể giải thoát khỏi sanh tử luân hồi. Về sau, Tứ Đế được xem như là pháp của Thanh Văn; ngoại trừ Phật Giáo Nguyên Thủy thuyết về giáo lý nầy, trong các kinh điển của Phật Giáo Đại Thừa cũng có đề cập đến giáo thuyết nầy, tỷ dụ như Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh (勝鬘獅子吼一乘大方便方廣經, TaishōVol. 12, No. 353), Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 12, 13, v.v., không những có giải thích theo quan điểm Đại Thừa mà còn phát huy áo nghĩa của Tứ Đế nữa. Về tự tánh của Tứ Đế, các bộ phái đều có những dị thuyết. Căn cứ A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 77, các luận sư của A Tỳ Đạt Ma (s: Abhidharma, 阿毘達磨) lấy Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊) là Khổ Đế, nhân của Hữu Lậu là Tập Đế, pháp Trạch Diệt (s: pratisaṃkhyā-nirodha, p: patisaṅkhā-nirodha, 擇滅) là Diệt Đế, pháp Học, Vô Học là Đạo Đế. Về thứ tự hiện quán của Tứ Đế, theo A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 22, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 78 cho biết rằng trước quán Khổ Đế, kế đến quán Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế. Căn cứ vào Hiển Dương Thánh Giáo Luận (顯揚聖敎論, Taishō Vol. 31, No. 1602) quyển 7 Trung, Đại Thừa Phật Giáo lấy nội dung của Tứ Đế diễn thành 8 loại, gọi là Bát Đế (八諦, Tám Đế); gồm Hành Khổ Đế (行苦諦), Hoại Khổ Đế (壞苦諦), Khổ Khổ Đế (苦苦諦), Lưu Chuyển Đế (流轉諦), Tạp Nhiễm Đế (雜染諦, tương đương với Khổ Đế và Tập Đế), Lưu Tức Đế (流息諦, tương đương với Diệt Đế), Thanh Tịnh Đế (清淨諦, tương đương với Diệt Đế và Đạo Đế), Chánh Phương Tiện Đế (正方便諦, tương đương với Đạo Đế). Bên cạnh đó, Đại sư Trí Khải của Thiên Thai Tông căn cứ vào thuyết của Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh, Đại Bát Niết Bàn Kinh mà lập ra 4 loại Tứ Đế có sâu cạn bất đồng, tương đương với 4 giáo tướng Tạng, Thông, Biệt, Viên; gồm: (1) Sanh Diệt Tứ Đế (生滅四諦), do Tạng Giáo (藏敎) thuyết ra, tùy theo việc sanh diệt Hữu Vi mà quán nhân quả của Tứ Đế là thật có sanh, diệt. (2) Vô Sanh Tứ Đế (無生四諦), hay Vô Sanh Diệt Tứ Đế (無生滅四諦), do Thông Giáo (通敎) thuyết ra, tùy theo nhân duyên các pháp tức là Không, Vô Sanh mà quán nhân quả mê ngộ của Tứ Đế, đều là không vô vốn chẳng có sanh diệt. (3) Vô Lượng Tứ Đế (無量四諦), do Biệt Giáo (別敎) thuyết ra, tùy theo trong cõi ngoài cõi với vô số sai biệt, vô số nhân, mà Tứ Đế cũng có vô lượng các tướng. (4) Vô Tác Tứ Đế (無作四諦), do Viên Giáo (圓敎) thuyết ra, tùy theo đương thể của mê ngộ tức là thật tướng, mà quán sự đối lập mâu thuẫn giữa mê với ngộ tức chẳng phải mâu thuẫn, và tất cả đều là thật tướng. Ngoài ra, Pháp Tướng Tông lấy Diệt Đế lập ra Ba Diệt Đế, gồm: Hữu Tự Tánh Diệt (有自性滅), Nhị Thủ Diệt (二取滅) và Bản Tánh Diệt (本性滅); đối với Đạo Đế thì lập ra Ba Đạo Đế, gồm: Biến Tri Đạo (徧知道), Vĩnh Đoạn Đạo (永斷道) và Tác Chứng Đạo (作證道). Trong Viên Giác Kinh Đại Sớ Thích Nghĩa Sao (圓覺經大疏釋義鈔, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 245) quyển 3 có đoạn rằng: “Hữu Khổ khả tri, hữu Tập khả đoạn, hữu Diệt khả chứng, hữu Đạo khả tu, mê tắc Khổ Tập sanh nhi chân đạo diệt, ngộ tắc Khổ Tập diệt nhi chánh đạo sanh, hữu khả sanh diệt, cố vân Sanh Diệt Tứ Đế (有苦可知、有集可斷、有滅可證、有道可修、迷則苦集生而眞道滅、悟則苦集滅而正道生、有可生滅、故云生滅四諦, có Khổ biết được, có Tập đoạn được, có Diệt chứng được, có Đạo tu được, mê thì Khổ Tập sanh mà chân đạo diệt, ngộ thì Khổ Tập diệt mà chánh đạo sanh, có khả năng sanh diệt như vậy, nên gọi là Sanh Diệt Tứ Đế).” Hay trong Thích Thiền Ba La Mật Thứ Đệ Pháp Môn (釋禪波羅蜜次第法門, Taishō Vol. 46, No. 1916) quyển 9 cũng có đoạn: “Niệm tử tức ngộ vô thường Tứ Đế, nhược Tam Giới bệnh tận tức đắc chứng đạo (念死卽悟無常四諦、若三界病盡卽得聖道, nghĩ nhớ bệnh là ngộ vô thường Tứ Đế, nếu Ba Cõi bệnh hết tức được chứng đạo).”
- Tứ Trí (s: catvāri jñānāni, 四智): 4 loại trí tuệ, có nhiều giải thích khác nhau. (1) Tứ Trí là quả vị Phật, được thiết lập bởi Duy Thức Tông; tức lấy thức thứ 8, thứ 7, thứ 6 và thứ 5 để chuyển thành 4 loại trí tuệ vô lậu; gồm Đại Viên Cảnh Trí (大圓境智), Bình Đẳng Tánh Trí (平等性智), Diệu Quan Sát Trí (妙觀察智) và Thành Sở Tác Trí (成所作智). Trong Mật Giáo có thêm vào Pháp Giới Thể Tánh Trí (法界體性智) để hình thành Ngũ Trí (五智). Ngoại trừ Pháp Giới Thể Tánh Trí biểu thị cho Đại Nhật Như Lai (大日如來) ở trung ương, 4 trí còn lại thể hiện cho 4 trí tuệ của 4 vị Phật. Theo Kim Cang Giới mà nói, Đại Viên Cảnh Trí biểu thị cho Đông Phương A Súc Phật (東方阿閦佛), Bình Đẳng Tánh Trí cho Nam Phương Bảo Sanh Phật (南方寶生佛), Diệu Quan Sát Trí cho Tây Phương Vô Lượng Thọ Phật (西方無量壽佛), và Thành Sở Tác Trí cho Bắc Phương Thiên Cổ Lôi Âm Phật (北方天鼓雷音佛). (2) Là 4 loại trí đạt được do Bồ Tát quán Duy Thức vô cảnh, và cũng là các loại trí do Duy Thức Tông lập ra để luận phá ngoại đạo chấp có thật ngã cũng như thật pháp. Theo Nhiếp Đại Thừa Luận (攝大乘論) quyển trung, Thành Duy Thức Luận (成唯識論) quyển 7, Tứ Trí gồm Tương Vi Thức Tướng Trí (相違識相智, tức quán cảnh tùy theo nghiệp lực của người, trời, quỷ, súc sanh, v.v., không giống nhau nên biến hiện cũng không đồng nhất, vì vậy cảnh không thật có); Vô Sở Duyên Thức Trí (無所緣識智, tức quán thức sanh ra đều do duyên của cảnh không thật thuộc quá khứ, tương lai, mộng, v.v., hết thảy cảnh giới đều do tâm hiện ra; cho nên quán chỉ có thức mà không có cảnh); Tự Ứng Vô Đảo Trí (自應無倒智, tức quan cảnh nếu là thật, tất hết thảy phàm phu đều làm thánh cả, do vì xưa nay chứng ngộ cảnh ngoài tâm là tự nhiên thành tựu mà không điên đảo; tuy nhiên, kẻ phàm phu cũng phải mượn công dụng của ngoại cảnh để đạt được giải thoát; vì vậy, cảnh cũng không có thật); Tùy Tam Trí Chuyển Trí (隨三智轉智, trí tuệ tùy theo ba loại trí để quán sát và chuyển cảnh tướng; Ba Trí là Tùy Tự Tại Giả Trí Chuyển Trí [隨自在者智轉智], Tùy Quán Sát Giả Trí Chuyển Trí [隨觀察者智轉智], và Tùy Vô Phân Biệt Trí Chuyển Trí [隨無分別智轉智]). Là 4 loại trí tuệ của bậc La Hán, hay trí tuệ nội chứng Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦) của hàng Nhị Thừa, vô học thánh nhân. Theo Thắng Man Kinh Nhất Thừa Chương (勝鬘經一乘章), Thành Duy Thức Luận Thuật Ký (成唯識論述記) quyển 9, v.v., 4 loại trí nầy gồm: Ngã Sanh Dĩ Tận (我生已盡, chỉ đoạn tận khổ quả của tương lai, chấm dứt tái sanh, là trí tuệ đoạn trừ các nhân gây khổ đau), Phạm Hạnh Dĩ Lập (梵業已立, chỉ tu tập thành tựu thánh đạo vô lậu, đã an lập phạm hạnh, là trí tuệ tu đạo), Sở Tác Dĩ Biện (所作已辨, những việc cần làm đã làm xong, chỉ sự đoạn tận các chướng ngại), và Bất Thọ Hậu Hữu (不受後有, không còn tái sanh, tức bậc thánh nhân vô học đã dứt trừ các hoặc nghiệp sanh tử, không còn thọ các khổ quả trong đời sau, là trí tuệ đoạn khổ). (4) Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 27 có thuyết về 4 loại trí khác như: Đạo Tuệ (道慧, trí tuệ biết được đạo); Đạo Chủng Tuệ (道種慧, đạo có vô lượng sai biệt, trí tuệ nầy có thể thông đạt đạo vô lượng); Nhất Thiết Trí (一切智, trí tuệ biết được tướng của các pháp là vắng lặng) và Nhất Thiết Chủng Trí (一切種智, trí tuệ biết được tướng của các pháp là vắng lặng, nhận rõ hết thảy các hành loại, sai biệt là có không, biến chiếu). Trong Lăng Nghiêm Kinh Tiên (楞嚴經箋, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 11, No. 271) quyển 3 giải thích rằng: “Như Lai Tạng, tắc Tứ Trí bồ đề chủng tử (如來藏、則四智菩提種子, Như Lai Tạng là hạt giống bồ đề của Bốn Trí).” Hay trong Giáo Ngoại Biệt Truyền (敎外別傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1580) quyển 4, phần Thọ Châu Trí Thông Thiền Sư (壽州智通禪師), có câu rằng: “Tự tánh cụ Tam Thân, phát minh thành Tứ Trí, bất ly kiến văn duyên, siêu nhiên đăng Phật địa (自性具三身、發明成四智、不離見聞緣、超然登佛地, tự tánh đủ Ba Thân, phát minh thành Bốn Trí, chẳng lìa duyên thấy nghe, siêu nhiên lên quả Phật).”